Social Icons

Pages

Thứ Hai, 10 tháng 11, 2014

SÁNG TỔ VOVINAM VÀ TRẬN ĐẤU VÕ VỚI VÔ ĐỊCH QUYỀN ANH PHÁP

Những thế võ Vovinam gợi nhớ lại chiến thắng truyền kỳ
của võ sư Nguyễn Văn Lộc năm xưa. Ảnh: Minh Hoàng
Giữa những tháng ngày phát triển của Việt võ đạo (Vovinam), võ sư Nguyễn Lộc đã được tôn vinh như một huyền thoại.
Vị tổ sư có công khai sáng môn quốc võ thịnh hành khắp năm châu ấy giờ đã đi xa. Nhưng đức độ, tài năng cũng như những truyền kỳ đầy mê hoặc về đời hành hiệp của một nhân cách lớn thì vẫn được các hậu duệ của ông truyền tụng mãi mãi.
Khai tông lập phái giữa thời loạn
Xóm Giếng, xã Hữu Bằng (huyện Thạch Thất, Hà Nội), nơi chúng tôi trở lại lần tìm dấu tích của một tổ sư lẫy lừng bậc nhất trong lịch sử võ thuật Việt Nam đã thay đổi quá nhiều so với ngày võ sư Nguyễn Lộc còn sinh thời. Không có những võ quán và cảnh người người say mê tập luyện Vovinam như ai đó mường tượng. Sự ồn ã, nhộn nhịp của đời sống một làng nghề đã làm thay đổi nơi đây. Giữa cảnh xô bồ ấy, ngôi nhà thờ họ Nguyễn Đình nằm tĩnh lặng trong một con ngõ nhỏ, nghi ngút khói hương thành kính, trở thành không gian thực sự khác biệt để nghe và chiêm nghiệm câu chuyện về những tháng ngày khai tông, lập phái của chàng thanh niên Nguyễn Lộc.
Tiếp chúng tôi bên gian trái nhà thờ, ông Nguyễn Đình Tiếp – người cao niên nhất của dòng họ Nguyễn Đình không vào đề ngay mà chỉ lên bàn thờ, nơi chạm nổi đôi câu đối sơn son thiếp vàng: “Nguyễn Đình hữu phúc sinh tôn Lộc – Nam Bắc danh nhân thế hậu truyền”. Đôi mắt ông khi đọc đôi câu đối đã đi vào tiềm thức của từng người trong dòng họ Nguyễn Đình qua ngót trăm năm ấy lấp lánh niềm tự hào về người con ưu tú đã làm rạng danh gia tộc.
Theo cụ Tiếp, thì từ ngày mới lên 5 tuổi, cậu bé Nguyễn Lộc đã theo cụ thân sinh Nguyễn Đình Xuyến rời làng lên Hà Nội. Dù được cha gửi vào học trường của người Pháp, nhưng từ sớm, Lộc đã cảm nhận được nỗi khổ đau trong thân phận nô lệ mất nước. Ý nghĩ ấy đã khiến cậu nung nấu quyết tâm, chỉ bằng con đường luyện võ, trước hết bảo vệ bản thân mình, sau là bảo vệ đồng bào trước cường quyền áp bức. Nhờ cha, Nguyễn Lộc tầm sư học đạo từ sớm và được thầy dạy khai tâm, chỉ dạy cho nhiều thế võ, vật dân tộc.
Suốt hành trình khổ luyện, Nguyễn Lộc không lúc nào tự cho phép mình ngơi nghỉ. Bất kể mùa hè nóng bức hay những ngày đông rét thấu xương thịt, ngày nào ông cũng dậy từ sớm, quần cộc cởi trần chạy từ nhà (phía sau chợ Hôm) ra bờ sông Hồng tập võ một mình. Hành trình kéo dài nhiều năm ấy đã tôi luyện cho ông một thân võ nghệ tinh thông, nhưng Nguyễn Lộc chưa hài lòng. Ông sáng tạo ra chủ thuyết Cách mạng tâm thân với mong muốn thay đổi toàn diện con người từ tâm hồn đến thể xác. Hoài bão đó thúc đẩy ông không ngừng nghiên cứu, sưu tầm và học hỏi hầu hết các môn võ thuật.
Cuối cùng, ông nhận ra môn nào cũng có điểm mạnh, điểm yếu và dung hòa nó để sáng tạo ra Vovinam, môn võ hoàn toàn phù hợp với thể trạng nhỏ bé của người Việt. Quá trình tập luyện, học hỏi, sáng tạo để cho ra đời môn võ nay đã trở thành niềm tự hào dân tộc ấy, ông Tiếp nhẩm tính kéo dài 19 năm đằng đẵng.


Bàn thờ có di ảnh tổ sư Vovinam Nguyễn Lộc 
và đôi câu đối tri ân ông của dòng họ Nguyễn Đình. Ảnh: T.L
Một mình dựng “Đả lôi đài”
Căn cứ vào những tài liệu hiếm hoi về thân thế của võ sư Nguyễn Lộc được ghi nhận, thì sự kiện minh chứng cho tài năng và tinh thần dân tộc của ông là màn phản kháng lại thực dân Pháp trong một buổi biểu diễn võ thuật do Hội Thân hữu thể dục thể thao tổ chức năm 1940. Giữa buổi lễ ấy, với sự xuất hiện của viên quan Pháp Ducoroy làm chủ tọa, ông Nguyễn Lộc đã từ chối không cho môn sinh thực hiện nghiêm lễ ngoài sân biểu diễn trước chính quyền thực dân. Hành động này đã khiến chính quyền cai trị lúc đó hết sức tức giận và ra sức ngăn cấm Vovinam phát triển. Nhưng số học trò, vì mến mộ khí tiết của võ sư Nguyễn Lộc, càng ra sức theo học Vovinam. Số lượng học viên thời điểm đó lên đến cả chục ngàn người. Trong quần chúng, thậm chí còn có khẩu hiệu: “Không học Vovinam không phải là người yêu nước”.
Câu chuyện về sự kiện năm 1940 ấy đến giờ vẫn được coi là mốc son đáng tự hào mà võ sư Nguyễn Lộc gây dựng cho võ phái mà ông sáng lập. Nhưng với những người cao niên trong họ Nguyễn Đình, mà đặc biệt là cụ Nguyễn Đình Tiếp, thì kỳ tích lưu truyền mà họ nhớ nhất phải là sự kiện ông Nguyễn Lộc “một mình dựng đả lôi đài thách đấu võ sỹ toàn miền Bắc vào năm 1939″.
Câu chuyện đã rất xa khiến ông Tiếp phải lục lọi khá lâu trong trí nhớ mường tượng lại. Cụ kể: “Năm 1938, võ đường Vovinam bắt đầu đi vào hoạt động nhưng vẫn trong vòng bí mật. Một năm sau đó, trước quảng trường Nhà hát lớn Hà Nội, để công khai hóa và dương danh Vovinam, võ sư Nguyễn Lộc đã một mình dựng đả lôi đài cho các môn sinh biểu diễn và bản thân mình thách đấu các võ sỹ miền Bắc”.
“Tôi không có dịp tận mắt chứng kiến sự kiện hùng tráng ấy. Nhưng nghe cụ thân sinh khi đó ra ở Hà Nội kể lại, thì trong vài ngày lôi đài dựng lên, võ sư Nguyễn Lộc đã một mình đánh bại gần chục cao thủ thách đấu. Nghe nói, oanh liệt nhất là màn tỷ võ với nhà vô địch quyền anh người Pháp” – ông Tiếp nhấp ngụm nước hồi tưởng. “Thời gian quá lâu nên tôi cũng không còn nhớ tên võ sỹ này. Chỉ biết, anh ta có cú đấm mạnh khủng khiếp. Người thường mà trúng phải một đấm ấy, nhẹ thì hộc máu gục ngay trên đài mà nặng thì nội thương phải nằm điều trị bệnh viện. Võ sư Nguyễn Lộc thể hình thấp bé hơn đối thủ cả cái đầu.
Cụ thân sinh của tôi kể lại khi lâm trận, tay võ sỹ người Pháp lao ngay về phía võ sư Lộc tấn công dồn dập. Phía dưới đài, học trò và cả những người theo dõi nín thở lo lắng. Nhưng võ sư Lộc, với thân pháp nhanh nhẹn, biến ảo khôn lường đã khiến đối thủ hầu như chỉ đấm vào… khoảng không. Khi nhận ra đối thủ sơ hở, đột ngột từ phía sau, võ sư Lộc bay người, sử dụng đòn kẹp chân sở trường vật đối thủ ngã xuống đài. Ngay lúc ấy, nếu ông bồi thêm một đòn mạnh nữa, võ sỹ người Pháp chắc chắn sẽ bị thương nặng. Nhưng bằng tinh thần thượng võ, ông đã đỡ đối thủ dậy khiến nhà vô địch quyền anh người Pháp thua tâm phục khẩu phục. Còn khán giả phía dưới, vỗ tay rần rần vì vui sướng”.
7 năm sau trận đánh oai hùng ấy, ông Tiếp kể mình cũng có dịp được thọ giáo tài năng của võ sư Lộc, khi ông dời toàn bộ võ quán dạt về xóm Giếng trong những ngày thực dân Pháp đánh chiếm Hà Nội.
Cụ Tiếp kể: “Theo chân võ sư Lộc về lúc ấy chỉ có vài người học trò tin cẩn nhất, trong đó có cả trưởng tràng Lê Sáng (người sau này có công lớn đưa Vovinam phát triển trên bình diện quốc tế).
Ngay khi về làng, võ sư Lộc mở lại võ quán, dạy cho khắp lượt thanh niên, già trẻ gái trai trong làng. Người theo học khi đó đông lắm, bởi ai cũng mến phục võ sư Lộc. Đến tháng 12/1946, khi Pháp chiếm Hà Nội, võ sư Lộc cũng rời làng. Ông mở võ quán ngay giữa chiến khu Việt Bắc, huấn luyện cho nhân dân và nhiều chiến sỹ du kích của quân ta”.
Tâm nguyện của dòng họ Nguyễn Đình
Vào Nam và qua đời khi mới tròn 48 tuổi (năm 1960), võ sư Nguyễn Lộc đã không thể thỏa ước mong mà ông ấp ủ được trở lại quê hương. Ông Tiếp kể: “9 người con của võ sư Nguyễn Lộc từng trở về thắp hương nhà thờ họ sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng. Trước bàn thờ võ sư Nguyễn Lộc, họ đã nói rằng nguyện vọng lớn nhất của cha trước khi nằm xuống là sau này, xương cốt sẽ được mang về hoàn táng bên cạnh tổ tiên ông bà.
Thể theo nguyện vọng ấy, dòng họ Nguyễn Đình cũng đã giữ một phần đất và dựng một ngôi mộ trống dành cho võ sư Lộc. Nhưng đến giờ, đã 50 năm sau ngày võ sư Lộc qua đời, linh cữu của ông vẫn chưa thể trở về quê hương”.
Ngôi mội trống dòng họ xây sẵn cho võ sư Nguyễn Văn Lộc đã phủ bụi thời gian
Theo chân cụ Tiếp và những người cao niên khác trong dòng họ Nguyễn Đình ra thăm ngôi mộ dựng sẵn nay đã phủ mờ vì bụi thời gian, người viết đã được nghe tâm nguyện với vị tổ sư khai sáng Vovinam. “Dòng họ Nguyễn Đình cũng nhiều lần đề nghị liên đoàn Vovinam giúp đưa linh cữu võ sư Lộc về quê nhà. Đó là tâm nguyện bao nhiêu năm nay”. Vẫn theo lời cụ Tiếp, thì chính quyền xã cũng đã hứa nếu chuyển được hài cốt võ sư Lộc từ trong Nam ra, họ sẽ hỗ trợ xây cho cụ một lăng mộ thờ tự đàng hoàng để khách thập phương về thăm viếng.
Thật đáng tiếc, khi đến ngày Vovinam được thừa nhận rộng rãi là Quốc võ của dân tộc ta, thì nguyện vọng lớn nhất cuối đời của vị tổ sư khai sáng môn phái vẫn chưa thành. Võ sư Lê Sáng – người học trò trưởng từng mấy lần mong muốn thực hiện di nguyện của sư phụ, giờ đã về trời. Vài năm nữa, liệu những thế hệ học trò của võ sư Lộc có hoàn thành tâm nguyện cho ông, hay con cháu dòng họ Nguyễn Đình và khách thập phương về lại Hữu Bằng thăm phát tích của Việt võ đạo, lại phải đành thắp nén nhang cho vị võ sư trên ngôi mộ trống?
Vovinam – Việt võ đạo là môn võ được võ sư Nguyễn Lộc sáng lập vào năm 1936 nhưng lúc này hoạt động âm thầm, đến 1938 mới đem ra công khai đồng thời ông đề ra chủ thuyết “cách mạng tâm thân” để thúc đẩy môn sinh luôn luôn canh tân bản thân và hướng thiện về thể chất lẫn tinh thần.
Bên cạnh việc tập luyện võ thuật, binh khí, các võ sinh còn tập luyện nhuyễn công, khí công và coi trọng việc trau dồi nhân tính. Vovinam có đòn bay cao kẹp cổ nổi tiếng, luôn có mặt trong các buổi biểu diễn.
Trong các môn võ của Việt Nam, Vovinam được phát triển qui mô và rộng lớn nhất với nhiều môn sinh ở nhiều nơi trên thế giới như Ba Lan, Bỉ, Campuchia, Ðan Mạch, Ðức, Hoa Kỳ, Morocco, Na Uy, Nga, Pháp, Romania, Thụy Sĩ, Thụy Ðiển, Singapore, Uzabekistan, Thái Lan, Italia, Australia…
Nguồn: Mạnh Cường - GiaDinh.net.vn »

10 ĐIỀU TÂM NIỆM CỦA MÔN PHÁI


I. Mười điều tâm niệm.

  1. Việt Võ Ðạo sinh (VVÐS) nguyện đạt tới cao độ của nghệ thuật để phục vụ dân tộc và nhân loại .
  2. VVÐS - Nguyện trung kiên phát huy môn phái, xây dựng thế hệ thanh niên Việt Võ Ðạo 
  3. VVÐS - Ðồng tâm nhất trí , tôn kính người trên, thương mến đồng đạo.
  4. VVÐS - Tuyệt đối tôn trọng kỷ luật, nêu cao danh dự võ sĩ.
  5. VVÐS - Tôn trọng các võ phái khác, chỉ dùng võ để tự vệ và bênh vực lẽ phải.
  6. VVÐS - Chuyên cần học tập, rèn luyện tinh thần, trau dồi đạo hạnh.
  7. VVÐS - Sống trong sạch, giản dị, trung thực và cao thượng.
  8. VVÐS - Kiện toàn một ý chí đanh thép, thắng phục cường quyền, bạo lực. 
  9. VVÐS - Sáng suốt nhận định, bền gan tranh đấu, tháo vát hành động.
  10. VVÐS - Tự tin, tự thắng, khiêm cung, độ lượng, luôn luôn kiểm điểm để tiến bộ.

II. Ý nghĩa đại cương 10 điều tâm niệm.

  Ðiều 1. Nói về hoài bão và mục đích học võ.
  Ðiều 2. Nói về Nghĩa vụ đối với môn phái và dân tộc.
  Ðiều 3. Nói về Tình đoàn kết trong môn phái.
  Ðiều 4. Nói về võ kỹ và danh dự võ sĩ 
  Ðiều 5. Nói về ý thức dụng võ
  Ðiều 6. Nói về ý hướng học tập và đời sống tinh thần
  Ðiều 7. Nói về Tâm nguyện sống.
  Ðiều 8. Nói về Rèn luyện ý chí.
  Ðiều 9. Nói về Nếp suy cảm, nghị lực và tính thực tế.
  Ðiều 10. Nói về Ðức sống và tinh thần cầu tiến.

III. Ý Nghĩa 10 Ðiều Tâm Niệm Của Việt Võ Ðạo Sinh.

  Môn phái võ đạo, võ thuật luôn tồn tại, phải có một ý thức hệ vững chắc, một tổ chức đầy đủ, một chương trình huấn luyện hữu hiệu.
  Có một ý thức hệ vững chắc, môn phái võ đạo, võ thuật ấy mới có thể hướng dẫn tinh thần các võ sinh, để có một ý thức dụng võ đứng đắn, không bao giờ làm tổn thương tới danh dự môn phái và trật tự xã hội. 
  Với một tổ chức đầy đủ, kỷ luật võ đường mới có thể bảo đảm được nếp sống trong và ngoài võ đường, và do đó mới có thể hướng dẫn các võ sinh về tinh thần thượng võ.
  Có một chương trình huấn luyện hữu hiệu, mới có thể đào luyện võ sinh tinh tiến về căn bản võ thuật để làm sáng danh môn phái trong những trường hợp phải dụng võ. 
  Tuy nhiên, cả ba phần vụ võ trên là phần vụ võ đào tạo. Phần vụ đào tạo đó hữu hiệu hay không, trước hết phải do tâm nguyện của võ sinh, tức võ sinh phải có kỷ luật tự giác hay không. Sau đó, là phần bổ túc kỷ luật tập thể, nhằm mục đích chỉ đào tạo những hạt giống tốt. 
Mười điều tâm niệm của Việt Võ Ðạo Sinh chính là phản ánh chủ trương trên của môn phái: một mặt minh định ý hướng đào tạo của môn phái, một mặt qui định kỷ luật tự giác của các môn sinh. 

  Điều 1. Hoài bão và mục Ðích Học Võ 

  Người học võ trước hết phải có hoài bão lớn lao, là mong đạt tới mức độ siêu việt, chớ không phải chỉ cốt học qua loa một vài đòn thế để tự vệ là đủ. Ở đây hoài bão của Việt Võ Ðạo sinh là "Nguyện đạt tới cao độ của nghệ thuật". 
  Nghề võ cũng như nghề may, nghề nấu ăn, nghề báo, nghề văn, ai ai cũng đều có thể theo được, nhưng chỉ những người bền tâm, bền chí mới hy vọng đạt tới một mức khả quan để trở thành nghệ thuật. Nghề nào cũng có thể đạt tới mức tinh thục. Những khi đã vào được nghệ thuật võ học rồi, tâm nguyện của người học võ chưa phải như thế là đã giải quyết xong, mà còn học nữa, trau giồi nữa, trau giồi mãi mãi, tới cao độ của nghệ thuật. Tất nhiên mức độ của nghệ thuật võ không cùng, nhưng nếu có tâm, chí, người học võ có thể đạt được tới mức cao siêu nào đó. Mức độ cao siêu đó là cao độ. Bởi vì nghệ thuật võ không cùng, nên không bao giờ có cao độ tuyệt đối. Cao độ của nghệ thuật là một cao độ tương đối, mà người học võ nếu thành tâm bền chí, có thể đạt tới được. 
  Sau đó, người học võ phải tìm hiểu mục đích học võ của mình. Học võ mà không có đích chẳng khác gì người đi đường không biết rõ mình đi đâu, người lính ra trận không biết rõ mình ra trận để làm gì. 
Chỉ có những người chưa học võ mới có quan niệm sai lầm rằng: học võ "để đánh người", hoặc học võ "để đi đánh lộn". Sự thật trái lại. Thực tế cho chúng ta thấy rằng: càng những người không biết võ, hoặc biết võ vẽ một vài miếng mới hiếu chiến, tức "thích đánh lộn". 
  Người giỏi võ không thế, chẳnh những trau giồi về võ thuật, mà còn trau giồi cả về tinh thần thượng võ, ý thức võ đạo. Những người có tinh thần thượng võ và ý thức võ đạo luôn luôn bình tĩnh giải quyết sự việc. Họ không có mặc cảm tự ti, là bị người coi thường. Họ rất ghét sự gây gổ cá nhân, và thường tỏ ra là người có sức chịu đựng giỏi hơn người khác. Lý do thật giản dị: Anh không dùng võ để tỏ ra là mình mạnh để khỏi có mặc cảm sợ người, vì anh hiểu rằng chỉ cần một vài thế võ là hạ xong địch thủ. 
  Học võ để hạ địch thủ trong một lúc tức giận nào đó, không hợp với tinh thần Việt Võ Ðạo. Việt Võ Ðạo Sinh học võ với một mục đích cao cả hơn: Học võ để có thể giúp ích đồng bào nhiều hơn, để hòa giải những mâu thuẫn giữa con người với con người, giữa quốc gia với quốc gia. Anh học võ với ý thức phục vụ, chứ không phải với ý thức đàn áp. Anh học võ để phục vụ dân tộc của anh và nhân loại tất cả chúng ta, của tất cả mọi người. 
Tóm lại, cả 2 câu trên, khi bước vào ngưỡng của Việt Võ Ðạo, đều được đặt ra nghiêm chỉnh và giải đáp phân minh. Ðúc kết lại thành điều tâm niệm thứ nhất: 
  Việt Võ Ðạo Sinh Nguyện Ðạt Tới Cao Ðộ Của Nghệ Thuật Ðể Phục Vụ Dân Tộc Và Nhân Loại. 

  Điều 2. Nghĩa Vụ Của Việt Võ Ðạo Sinh Ðối Với Môn Phái Và Dân Tộc. 

  Ðã có hoài bão và hiểu rõ mục đích học võ rồi, người học võ còn phải tìm hiểu nghĩa vụ đối với môn phái ra sao? Ðối với dân tộc ra sao? 
Ở đây, nghĩa vụ của người võ sinh đối với môn phái là: "Nguyện trung kiên phát huy môn phái". Chúng ta cần phải đọc kỹ lại đoạn đầu của điều tâm niệm thứ 2 là: "Trung kiên phát huy môn phái", chớ không phải trung kiên riêng cho cá nhân nào. Tuy nhiên, nếu cá nhân đó đương chấp chưởng công cuộc phát huy môn phái, thì một võ sinh trung kiên có nghĩa vụ phải tiếp tay, góp sức. Và như vậy, là chúng ta đã trung kiên đúng với tinh thần mà chúng ta tự nguyện. 
  Muốn phát triển môn phái chúng ta phải thực hiện những việc gì? Có hai cách phát huy môn phái: 
Dày công khổ luyện để trở thành huấn luyện viên, võ sư trực tiếp truyền thụ võ thuật và tinh thần võ đạo cho quần chúng. 
 Thực tập tinh thần võ đạo trong đời sống. Nghĩa là ở trong gia đình, chúng ta phải là những người cha từ, con hiếu, anh hiền, em thảo, với bạn bè phải giữ tín nghĩa, với hàng xóm phải luôn luôn tìm dịp giao hòa, giúp đõ. Có thế chúng ta mới được mọi người thương mến, cảm phục. Và đó chính là chúng ta đã tích cực phát huy môn phái. 
Còn nghĩa vụ đối với dân tộc là: "Xây dựng thế hệ thanh niên Việt Võ Ðạo". Tại sao cần phải xây dựng thế hệ thanh niên Việt Võ Ðạo? Vì có được thế hệ thanh niên Việt Võ Ðạo là có được bức trường thành kiên cố để bảo vệ đất nước, xây dựng tương lai. Chính tinh thần võ đạo đã khơi mở tấm lòng thiết tha yêu nước của người công dân và làm cho dân tộc trường tồn, vững chắc. 
 Từ hàng ngàn năm nay, nước Nhật đã vượt biết bao khó khăn, thử thách, quật cường được sau bao nhiêu hiểm họa vong quốc, vì họ đã sẵn có một căn bản những thế hệ thanh niên võ đạo. 
Việt Nam chúng ta, sau bao hiểm họa mất nước, còn tồn tại được tới ngày nay, chính vì tiền nhân chúng ta vẫn tiềm tàng một tinh thần võ đạo phôi thai. 
 Hoặc nói cách khác: Ông cha chúng ta chưa hình thành xong một ý thức hệ võ đạo nhưng vì luôn luôn hàm dưỡng một tinh thần thượng võ bất khuất, tức một tinh thần võ đạo phôi thai, nên sau bao lần phải đương đầu với nạn ngoại xâm, vẫn chiến thắng những trận cuối cùng để bảo toàn lãnh thổ. Trong những lần lâm nguy biến như vậy (Trần, Lê, Tiền Nguyễn), bao giờ việc đảm đương sứ vụ cứu nước cũng do thế hệ thanh niên tiền võ đạo đứng ra đảm nhiệm.
 Vì vậy, tiếp tục truyền thống ấy, việc làm tiên quyết của môn phái chúng ta: Xây dựng thế hệ thanh niên Việt Võ Ðạo. 
 Tóm lại, cả 2 câu hỏi trên, được đúc kết lại thành điều tâm niệm thứ 2: 
Việt Võ Ðạo Sinh Nguyện Trung Kiên Phát Huy Môn Phái, Xây Dựng Thế Hệ Thanh Niên Việt Võ Ðạo. 

  Điều 3. Tình Ðoàn Kết Trong Môn Phái. 

  Sau khi biết rõ nghĩa vụ của mình đối với môn phái và đối với dân tộc, Việt Võ Ðạo Sinh đề cập tới tình đoàn kết trong môn phái. Trong bất cứ đoàn thể nào tình đoàn kết cũng được nói tới trước nhất. Thiếu sự bất đồng tâm nhất chí, thì dẫu là một đoàn thể gồm toàn những vị bác học uyên thâm cũng chả thành công một việc gì cả. Trái lại, một khi đã có tình khối đoàn kết, có sự gắn bó chặt chẽ với nhau, thì dầu với một khối người chất phác, tầm thường, hiểu biết nông cạn, vẫn có thể bạt núi lấp sông. 
  Vì lẽ trên, Việt Võ Ðạo Sinh phải luôn luôn giữ vững kỷ cương và không bao giờ chấp nhận một mầm mống chia rẽ nhỏ nhặt nào. Tình đoàn kết trong môn phái phải được khơi mở sâu xa, thắm thiết và liên tục phát huy trong đời sống tập thể. 
  Việt Võ Ðạo Sinh phải dẹp bỏ mọi mặc cảm, thành kiến, quyết tiêu trừ mọi tự ái sai lầm, mọi ý nghĩa cá nhân riêng lẻ. Có thế sự thông cảm giữa những người trong môn phái mới mỗi ngày được vun tươi thêm mà nẩy nở. Tuyệt đối không có thù hằn trong nội bộ, nếu có những thắc mắc phải giải quyết ngay trong một lúc. Hơn bất cứ đoàn thể nào hết, môn phái Vovinam - Việt Võ Ðạo không bao giờ chấp nhận hay tha thứ một mầm mống mâu thuẫn nào trong nội bộ. 
  Một quốc gia không thể trưởng thành trong sự chia rẽ. Một võ phái không thể nào phát huy được, nếu luôn luôn có những mâu thuẫn trong nội bộ. 
Do đó, người dưới phải chân thành, thuần hậu, tôn kính người trên và mọi người (đồng đạo) đối với nhau phải thật tình thương mến. (Danh từ đồng đạo chỉ chung tất cả mọi người trong môn phái cùng theo đuổi một mục đích võ thuật, võ đạo). 
  Sự thương mến đồng đạo ở đây, với môn phái Vovinam, là một sự thương mến tích cực. Có thương mến tích cực mới dẹp bỏ được thành kiến về giai cấp, về trình độ học vấn, về tài năng đặt biệt để đi tới một niềm thông cảm sâu xa và luôn luôn nâng đỡ, dìu dắt nhau trên con đường phục dân tộc và nhân loại. Tóm lại, điều tâm niệm thứ 3 của Việt Võ Ðạo Sinh là: 
  Việt Võ Ðạo Sinh Ðồng Tâm Nhất Chí, Tôn Kính Người Trên, Thương Mến Ðồng Ðạo. 

  Điều 4. Võ Kỷ Và Danh Dự Võ Sĩ:

       Sau tình đoàn kết trong môn phái, Việt Võ Ðạo Sinh vào phần võ kỷ và danh dự võ sĩ. Kỷ luật của một môn phái võ đạo khác với kỷ luật của quân đội và kỷ luật của các đảng phái cách mạng hay chính trị. Kỷ luật võ đạo không tạo lập trên căn bản sắt máu hay tinh thần toàn chuyên (Otolitoriste). 
  Kỷ luật của một môn phái võ đạo có những nguyên tắc căn bản của nhà võ: Ðượm tình thẳng thắn và tính như nhất. 
Kỷ luật ấy, một phần dựa vào những nguyên tắc thông cảm tự giác, một phần xây trên nguyên tắc sinh tồn của môn phái, nên mặc dầu không có tính cách khắt khe quá đáng, nhưng mang tính chất chọn lọc, đào thải hợp lý. Vì vậy, hình phạt tối đa của môn phái chỉ là thu hồi đai đẳng, trục xuất ra khỏi môn phái, và tuyên báo quyết định đó trước công luận. Nhưng từ hơn 50 năm nay, môn phái Vovinam chưa bao giờ phải có quyết định quyết liệt, chỉ vì môn phái chúng ta đã từ người trên thuần cẩn làm gương cho người dưới và đặt vấn đề chọn lọc kỹ lưỡng ngay từ lúc đầu. 
  Vì vậy, võ sinh gương mẫu bao giờ cũng là người tôn trọng kỷ luật tới mức tuyệt đối. Môn phái võ đạo, chỉ có thể tồn tại và phát huy được, do những khối óc và những bàn tay xây dựng, chứ không do những thái độ anh hùng cá nhân, vô kỷ luật. 
  Nói đến "cá nhân" chúng ta liên tưởng ngay tới những nhóm người rời rạc, nhiều mâu thuẫn nội bộ, nhiều tự ái, nhiều thành tín, mặc cảm. Ðó là "cá nhân" hiểu theo nghĩa sâu. 
  Theo một nghĩa tốt đẹp hơn, chúng ta lại hiểu cá nhân như một bậc anh hùng khó tính: có tài, nhưng thích làm việc tùy hứng, không bao giờ ở lâu một nơi, làm lâu một việc. 
  Cả 2 thứ cá nhân của "cá nhân chủ nghĩa" và "anh hùng cá nhân chủ nghĩa" đều không thích hợp với Việt Võ Ðạo. Bởi mang nặng tính chất nghệ thuật và kỹ thuật, nên nghề võ chỉ thích hợp với những người có kỷ luật tự giác tinh thần. 
  Khi học võ mà chú trọng quá nhiều tới danh dự cá nhân, sẽ không thể nào hòa mình vào tập thể. Cá nhân phải để ra ngoài: Chỉ có con người học võ để trở thành võ sĩ, chớ không có cá nhân học võ để trở thành võ sĩ. 
  Do đó, khi học võ, Việt Võ Ðạo Sinh chỉ giữ lại phần "con người" của mình, để trở thành "người võ sĩ" của Việt Võ Ðạo, và không lúc nào quên nêu cao danh dự của người võ sĩ, tức danh dự chung của tập thể, một thứ danh dự bênh yếu chống mạnh, một thứ danh dự vượt lên khỏi những tự ái cá nhân để hoà mình vào nền võ đạo. 
  Ðúc kết lại, điều tâm niệm thứ 4 là: 
        Việt Võ Ðạo Sinh Tuyệt Ðối Tôn Trọng Kỷ Luật Và Nêu Cao Danh Dự Võ Sĩ. 

  Điều 5. Ý Thức Dụng Võ 

  Sau khi hòa mình vào võ kỷ, vào tập thể, Việt Võ Ðạo Sinh phải có ý thức dụng võ cho đúng đắn để nói lên được tinh thần cao đẹp của môn phái. Việt Võ Ðạo Sinh học võ không phải với mục đích ganh hơn thua, với người hoặc kiêu căng, phách lối, khinh thị người. Trái lại, khi trình độ võ thuật càng cao càng phải thuần cẩn, lễ độ, giao hòa với các võ phái khác, để cùng phát triển, phục vụ cho nền võ đạo dân tộc và nhân loại. Nên nhớ: cái hay, cái giỏi của ta tự nó đã nổi bật không cần phải khoe khoang, gièm pha, khiêu khích để được dịp thử tài với các võ phái khác, vì đó chỉ là thái độ của kẻ cuồng bạo, xuẩn động, võ phu, chứ không phải là phong thái hào hùng, cao nhã của người võ sĩ chân chính, của Việt Võ Ðạo Sinh. 
  Một khi đã ra tay cảnh cáo, trừng phạt một phần tử hư hỏng của một võ phái nào đó, Việt Võ Ðạo Sinh chỉ coi đấy là một việc làm bất đắc dĩ khuyến thiệt một vài cá nhân hư hỏng, chớ không bao giờ có ý định xúc phạm tới toàn thể của họ để gây ra thù chuốc nghịch, tức không vơ đũa cả nắm. 
  Ngoài ra môn phái Vovinam không chủ trương cho võ sinh thượng đài. Vì thượng đài gây cho võ sinh một tinh thần hiếu chiến hiếu thắng, coi chiến và thắng là mục đích tối hậu của sự học võ. Thượng đài cũng có một số luật lệ đã qui định, như sức vóc, cấm một số đòn chân... để tiết chế đi phần nguy hiểm cho các võ sĩ, nhưng vẫn không trù liệu trước được hết mọi trường hợp nguy hiểm dự liệu. Nhưng quan trọng hơn cả là tinh thần người võ sĩ thượng đài: thần kinh hệ suy nhược, óc lỏng, trí nhớ kém, sự thông minh giảm sút. Theo bác sĩ Halstead, một chuyên viên khám nghiệm các võ sĩ thượng đài, thì 60% võ sĩ thượng đài phải giảm sút năng lực, 50% lâm tình trạng ngu độn hoàn toàn. Chính Gene Tunney, cựu vô địch quyền Anh hạng nặng thế giới cũng ngỏ lời khuyên các võ sĩ trẻ tuổi nên bỏ cuộc sớm, mà theo anh, lý do chính là "những cú đấm, tưởng không mạnh, sẽ lần hồi tiêu diệt trí khôn của con người." 
  Bởi vậy, người võ sĩ luôn luôn chiến và thắng trên võ đài, tâm trí thường mê mụ đi (vì óc lỏng), thường trở thành người khó tính, hay nổi giận, ưa phản ứng bằng sức mạnh nhưng sử dụng sức mạnh lại rất chậm chạp, thường sơ hở không giữ kín những trọng huyệt, nên khó có thể chiến và thắng được ở ngoài đời. Môn phái Vovinam, mặc dầu tôn trọng các võ phái khác, cũng không tán thành những trường hợp trên, vì không muốn các võ sinh có ý thức học võ chỉ cốt nhằm mục đích thượng đài. 
  Tóm lại, để cụ thể hóa việc học võ, theo tinh thần võ đạo, Việt Võ Ðạo Sinh chỉ được dụng võ trong 2 trường hợp thông thường: Trong đời tư: dùng để tự vệ (khi danh dự, quyền sống cá nhân bị xúc phạm, đe dọa) 
  Trong đời công: dùng võ để bênh vực lẽ phải (trọng công bằng, chính trực, chống bất công bạo ngược). 
  Tóm lại, tất cả mọi giải đáp trên được đúc kết thành điều tâm niệm thứ 5: 
       Việt Võ Ðạo Sinh Tôn Trọng Các Võ Phái Khác, Chỉ Dùng Võ Ðể Tự Vệ Và Bênh Vực Lẽ Phải. 

  Điều 6. Ý hướng học tập và đời sống tinh thần. 

  Khi đã có ý thức dụng võ đứng đắn, Việt Võ Ðạo Sinh bắt đầu đi vào chủ trương "Cách Mạng Tâm Thân". Muốn cách mạng tâm thân, phải rèn luyện tâm thân. Muốn rèn luyện tâm thân, phải có ý hướng học tập và trau giồi đời sống tinh thần. Có thế chúng ta mới có hy vọng vào được bên trong tòa nhà võ đạo, chớ không chỉ quanh quẩn bên ngoài ngưỡng cửa võ thuật. 
  Ý hướng học tập của Việt Võ Ðạo Sinh có thể thâu tóm trong 2 chữ: Chuyên Cần. 
  • Chuyên: Tập trung tâm trí vào một việc, một sự nghiệp. 
  • Cần: Lo và làm hết sức mình, không quản khó nhọc. 
  Chỉ giản dị có 2 chữ "Chuyên cần", mà theo được đúng, thật khó biết bao! 
  Ý hướng học tập của Việt Võ Ðạo Sinh có 5 điểm căn bản: 
  Học cho rộng: Học ở đây thuộc phạm vi võ đạo và võ thuật, cả lý thuyết và thực hành, từ những thế, đòn, miếng tới ý thức hệ Việt Võ Ðạo, từ ý thức hệ Việt Võ Ðạo tới các ý thức võ đạo và võ thuật của các môn võ khác trên thế giới. Chỉ giản dị có bấy nhiêu thôi, cũng đòi hỏi ở chúng ta biết bao nhiêu công phu học hỏi, nghiên cứu, thực tập. 
  Hỏi cho kỹ: Mỗi người đều có óc thiên bẩm, có mức thông minh khác nhau, có chí hướng và nghị lực hơn kém nhau. Nhưng tất cả đều giống nhau ở điểm: học điều gì chưa biết rõ, thì phải hỏi. Hỏi ở thầy, ở bạn trong cuộc sống. Hỏi một lần chưa hiểu được thấu đáo, sẽ hỏi nữa, hỏi cho kỹ lưỡng, không bỏ cuộc nửa chừng, không tự ái chán nản. 
  Nghĩ cẩn thận: Khi đã hiểu rồi, còn phải suy nghĩ thêm về những điều mình đã học. Suy nghĩ càng thêm cẩn và thận trọng, lúc thi hành càng ít lỗi lầm. Thói quen suy nghĩ sẽ làm ta hiểu nhanh, biết rộng, luôn luôn tìm thêm được những ý nghĩ mới, ý kiến mới, ý niệm mới. Thiên kiến sáng tạo, phát minh, chính một phần lớn là kết tinh của những công trình suy nghĩ. Môn phái Vovinam sở dĩ hình thành được, mở đầu là công trình suy nghĩ của Cố Võ Sư Sáng Tổ Nguyễn Lộc. Trong lịch sử, những danh nhân làm nên sự nghiệp lớn là những người có thói quen suy nghĩ, chuyên cần suy nghĩ. Người có thói quen suy nghĩ cẩn thận, kỹ lưỡng, là người không bao giờ mắc phải những lỗi lầm quan trọng do sự vội vàng, cẩu thả tạo nên. 
  Luận cho sáng: Không một sự việc nào trong đời sống không bắt chúng ta phải suy luận. Những luận cứ, nếu càng sáng rõ bao nhiêu, càng dễ tới thành công bấy nhiêu. Muốn luận cho sáng, chúng ta phải hàm dưỡng đầy đủ những công phu quan sát, phân tích, tổng hợp, biện luận, phản luận và kết luận mau lẹ bao nhiêu, trí tuệ chúng ta càng thăng hoa bấy nhiêu, và càng gần với đích thành công bấy nhiêu. 
  Làm hết sức mình: Làm, trong việc học võ là thực tập võ thuật. Làm, trong đời sống là luyện cho chúng ta một thói quen ham hoạt động, ưa chuộng thực tế, không ảo tưởng. Không một ai thành công lớn hay lâu dài trong cuộc sống nếu những người đó chỉ làm hết một nửa sức mình. Muốn làm hết sức mình, phải luôn luôn tự đào luyện cho mình một kỷ luật tinh thần vững chắc, một ý thức về công việc đầy đủ. Lại luôn luôn vừa làm, vừa học, để mỗi ngày có thêm kinh nghiệm quý giá hơn, gặt hái được nhiều thành quả hơn. 
  Kế đó, đến phần rèn luyện tinh thần. 
Phương pháp rèn luyện tinh thần của Việt Võ Ðạo Sinh có thể thâu gọn vào việc phát triển và rèn luyện những đức tính: 
  • Ðức tính sống khỏe: Khỏe mạnh về cả tinh thần lẫn vật chất, để trí óc được luôn luôn thăng bằng. Trí óc thăng bằng là đầu mối của mọi đức tính. 
  • Ðức tính đức độ: Luôn luôn bao dung, điều hoà khắc chế mình và tha thân (người) để cùng tiến bộ. 
  • Ðức tính cương trực: Tức đức tính cương quyết và thẳng thắn, một đức tính tối cần cho nhà võ. 
  • Ðức tính trầm tĩnh: Chìm lắng và bình tĩnh, để tránh những trường hợp xốc nổi, nóng nảy, vội vàng, dễ dàng đưa tới thất bại. 
  • Ðức tính tháo vát: Rèn luyện thói quen có thể ứng biến với mọi hoàn cảnh, trong mọi trường hợp. 
  Sau hết, và cũng quan trọng hơn hết, Việt Võ Ðạo Sinh phải trau giồi đạo hạnh. 
  Thế nào là "đạo hạnh"? 
Ðạo hạnh chính là 2 tiếng gọi tắt của 5 tiếng "phẩm hạnh Việt Võ Ðạo". 
  Phẩm hạnh Việt Võ Ðạo vô cùng cần thiết cho sự rèn luyện tâm thân của Việt Võ Ðạo Sinh trong cả đời công cũng như trong đời tư, vừa phù hợp với đạo và võ thuật, vừa thích ứng với mọi hoàn cảnh. 
  Chúng ta đều biết giá trị của cuộc sống có 3 thành tố: Âm tố, Dương tố và Ðạo thể. 
  Âm tố, tượng trưng cho sự mềm, sự tĩnh, sự tối. Dương tố tượng trưng cho sự cứng, sự động, sự sáng. Vòng đạo thể bao người, với những phẩm danh: 
      Phối hợp 
    Khắc chế 
    Ðiều hoà 
    Bao dung 
  Phối hợp, khắc chế, điều hòa, bao dung, những tính mềm (nhu), cứng (cương), tĩnh, động, tối, sáng của tạo vật, chính là những phẩm tính của đạo, của võ đạo, của Việt Võ Ðạo. Ðó là những phẩm hạnh căn bản mà một Việt Võ Ðạo Sinh phải luôn luôn trau giồi, để làm tròn sứ vụ võ đạo của mình. Và, đó cũng là những phẩm hạnh căn bản, đầu mối của mọi đức tính. 
  Tóm lại, tất cả giải đáp trên được đúc kết lại thành điều tâm niệm thứ 6: 
        Việt Võ Ðạo Sinh Chuyên Cần Học Tập, Rèn Luyện Tinh Thần, Trau Dồi Ðạo Hạnh. 

  Điều 7. Tâm Nguyện Sống Của Việt Võ Ðạo Sinh 

  Khi rèn luyện tâm thân là Việt Võ Ðạo Sinh đã tự tạo cho mình tâm nguyện sống: Tâm nguyện sống được thể hiện bằng 4 đức tính: 
  Trong sạch 
Giản dị 
  Trung thực 
  Cao thượng 
  Bốn đức tính trên, không những chỉ phù hợp với Việt Võ Ðạo Sinh, mà rất có thể phù hợp với các tôn giáo và các tổ chức dân sự cũng như quân sự. Tuy nhiên, Việt Võ Ðạo Sinh là những người dũng mãnh, thực tế, nên việc làm thể hiện những đức tính đó có tính cách tích cực, ngang nghiên và linh hoạt. Trong khi các tu sĩ thì thể hiện những đức tính trên theo tinh thần tiêu cực, chìm lặng vào nội tâm. 

  1. Về đức tính trong sạch: 

        Với các tu sĩ, thì trong sạch có nghĩ là: mắt không nhìn những gì ô uế, tai không nghe những gì tà mị, không nghĩ những điều vẩn đục, để ngăn chặn những hành động xấu xa ngay từ gốc rễ. Việt Võ Ðạo Sinh không thế. Vì sống trong lòng xã hội phải hoà hợp với mọi người, mọi giới, chúng ta không thể bưng tai bịt mắt trước những tội lỗi, xấu xa của xã hội, mà trái lại, phải lắng tai, phải nhìn thẳng vào mọi sự việc để giải quyết và cải thiện nó. Miễn là chúng ta không bao giờ để cho những tội lỗi, xấu xa đó làm xao xuyến, vẩn đục tâm hồn mà phát động ra những lỗi lầm, tội lỗi. 

  2. Về đức tích giản dị: 

       Với các tu sĩ thì giản dị có nghĩa là: Ăn, ở, trang phục đều đơn sơ, đạm bạc. Mặc dầu khi có đủ điều kiện để hưởng ứng những tiện nghi, hoa mỹ, cũng không dùng tới. Trái lại, giản dị đối với Việt Võ Ðạo Sinh là những người bình thường nên cũng có những nhu cầu thông thường và muốn được thỏa mãn, song không hạch sách, đòi hỏi, gây phiền toái, khó chịu mọi người. Ðức tính giản dị làm cho Việt Võ Ðạo Sinh luôn luôn thích ứng với mọi hoàn cảnh và dễ dàng được thiện cảm của mọi người. 
  Chúng ta cũng phải cần phân biệt giản dị khác với lập dị. Một người có nhà cao cửa rộng, chăn ấm, nệm êm, nhưng vì muốn được khen là giản dị, lại vác chiếu xuống nằm ở một hóc bếp thì đó chỉ là lập dị. Cũng như một thiếu niên, nhờ sinh trong một gia đình khá giả, cha mẹ may mặc cho những hàng đắt tiền, quý giá lại bỏ đó đòi may những hàng vải xấu thô kệch thì cũng chỉ là lập dị. Hoàn cảnh cho phép thì ta cứ dùng, chỉ khi nào hoàn cảnh không có mà cầu kỳ, đòi hỏi nọ kia thì mới là thiếu giản dị. 

  3. Về đức tính trung thực: 

       Trung thực với môn phái, với người trên, và với cả mọi người nữa. Nhưng trung thực không có nghĩ là không biết tới sự gian trá, nhưng tự thắng mình để không bị nhiễm tính gian trá, đó mới là phẩm cách xứng đáng của Việt Võ Ðạo Sinh. Ðối với người ngoài, trung thực cũng không có nghĩa là ngây thơ, đần độn, để hứng chịu tất cả mọi âm mưu lừa đảo và khuynh đảo. Trong những trường hợp cần thiết, người trung thực phải chứng tỏ cho kẻ gian trá hiểu rằng lối sống và những thủ đoạn gian trá của họ không thể thành công. Ðó là đức tính trung thực của Việt Võ Ðạo Sinh. 

  4. Về đức tính cao thượng: 

       Cao thượng không phải là một đức tính thường lệ, chiếu lệ, mà cao thượng là một đức tính ứng dụng trong những truờng hợp đặc biệt. 
  Ví dụ: Khi giao đấu, ai cũng biết rõ anh A là người có bản lãnh võ thuật hơn anh B. Nhưng anh A không chịu ra đòn, và cứ nhường nhịn mãi, tới lúc bị anh B đánh ngã. Trong thâm tâm anh A muốn chứng tỏ mình là một cao thượng nên đã áp dụng đức tính này trong một trường hợp thông thường. Tất nhiên mọi người xung quanh chẳng những có thể cho rằng anh A kém tài, mà còn có thể ngộ nhận rằng anh ta là người gàn dở, thiếu tinh thần thể thao. 
  Ngược lại nếu anh A là người có tử thù với anh B, nhưng tới lúc có thể trả thù được, anh A không làm, vì anh B đã thành thực hối lỗi. Ðây là một trường hợp đặc biệt, nên ai cũng thấy rõ rằng anh A là người cao thượng. 
  Tuy nhiên, việc rèn luyện đức tính cao thượng. đã khó mà việc hành xử sao cho đứng đắn, càng khó hơn. Ðức tính cao thượng không phải là thái độ bất chợt, một nghĩa cử xuông, mà là một công phu hàm dưỡng từng ngày. 
  Tóm lại, 4 đức tính đã được tóm tắt trong điều tâm niệm thứ 7 của Việt Võ Ðạo Sinh: 
        Việt Ðạo Sinh Sống Trong Sạch, Giản Dị, Trung Thực Và Cao Thượng. 

  Điều 8. Ý Chí Của Việt Võ Ðạo Sinh 

  Khi đã có tâm nguyện sống, Việt Võ Ðạo Sinh còn phải rèn luyện ý chí. Người xưa thường phân ý chí ra là 3 loại, với lối diễn tả gợi hình: 
  Loại ý chí lau sậy: Tức là loại ý chí dễ ngả nghiêng, hay thay đổi, gió chiều nào ngã theo chiều ấy, dễ bẻ dễ gẫy, không có chủ định gì cả. 
  Loại ý chí gỗ mục, củi cùn: Khá hơn một chút, vì có đôi chút công dụng trước khi bị mục hẳn hay cùn hẳn. Nhưng khi đã mục hẳn, cùn hẳn rồi thì lúc đó còn là những vật đáng bỏ và chờ đợi sự mai một. 
  Loại ý chí đanh thép: Tức loại ý chí vững vàng nhất. Thép là vật liệu phổ thông, nên ai nấy đều hiểu rõ công dụng của nó là vững vàng, chắc chắn. Ý chí của những người đại trượng phu, những bậc anh hùng: Để lâu ngày có thể bị rỉ sét, nhưng không thể bẻ gẫy được. 
  Là Việt Võ Ðạo Sinh, tất nhiên chúng ta phải tự rèn rũa, tôi luyện lấy một ý chí đanh thép. Hơn thế nữa, chúng ta phải kiện toàn ý chí đanh thép ấy, để ý chí chúng ta luôn luôn ngời sáng không bị rỉ sét. 
  Trong thực tế, muốn kiện toàn ý chí đanh thép, Việt Võ Ðạo Sinh phải: 
  Trước khi quyết định, cần thâu lượm, cân nhắc kỹ càng các sự kiện và dữ kiện.
  Khi bắt tay vào việc rồi, thì không đắn đo nữa, phải thực hiện kỳ được, với tất cả sở năng, mau lẹ và kiên quyết. 
  Ðã có ý chí là phải hành động. Hành động là đá thử vàng để tìm hiểu xem ý chí đó có thật là đanh thép không. Trong đời sống, chúng ta đã gặp biết bao nhiêu người thích nói mạnh, khỏe giỏi, nhưng vừa chậm chạp phải những khó khăn của thực tế liền lùi bước lẩn tránh ngay. Ðó là trường hợp của những anh hùng rơm, ngọn lửa ấy chỉ bốc cháy rất mau, thật lớn, nhưng đã sớm tàn lụi ngay. 
  Do đó, ý chí đanh thép còn cần phải băng qua một cuộc thí nghiệm nữa, mới có thể chứng tỏ nghị lực và hành động của người có nó. Ý chí đanh thép phải đụng chạm với những khó khăn trở ngại của thực tế mới chứng tỏ được sự rắn chắc và bền bỉ. Còn khó khăn, trở ngại nào đáng giá cho bằng những khó khăn, trở ngại khi phải đương đầu với cường quyền, bạo lực? 
  Như Hưng Ðạo Ðại Vương đứng trước thế ào ạt, dũng mãnh của cường địch, thấy quân mình ít, thế yếu, mà vội đầu hàng thì làm sao mấy lần đại thắng quân Mông Cổ, hầu biểu dương ý chí đanh thép, cương quyết. 
  Nếu Trần Bình Trọng chịu khuất phục, đầu hàng ngay sau khi bị bắt, và chỉ nói câu "Ninh vi Nam quỷ, vô vi Bắc Vương" (thà làm quỷ nước Nam, không làm vương đất Bắc) ở hậu tuyến, thì ông còn làm gì được kể là người có ý chí đanh thép. 
  Nếu Nguyễn Cao, Phó Nguyên súy nghĩa quân Cần Vương Bãi Sậy mà đầu hàng Thống Sứ Bihourd để ra làm quan với Pháp, thì ông đâu còn là người có ý chí kháng Pháp đanh thép. 
  Cường quyền, bạo lực là những thử thách lớn nhất và hữu hiệu nhất của ý chí đanh thép. Cho nên có ý chí đanh thép thôi, chưa đủ, còn cần phải kiện toàn nó, và để nó không bao giờ bị khuất phục trước cường quyền, bạo lực. 
  Ðúc kết lại điều tâm niệm thứ 8 là: 
  Việt Ðạo Sinh Kiện Toàn Ý Chí Ðanh Thép, Thắng Phục Cường Quyền, Bạo Lực 

  Điều 9. Nếp Suy Cảm, Nghị Lực, Và Tính Thực Tế Của Việt Võ Ðạo Sinh 

  Ðiều tâm niệm thứ 9 bao gồm 3 mục tiêu: 
    Nếp suy cảm 
    Nghị lực 
      Tính thực tế 
  1 - Ý thức hệ Việt Võ Ðạo công nhận mọi sự việc trên đời đều có 2 mặt tương phản và 2 giá trị đối lập đó luôn luôn ở tình trạng thôi thúc nhau để sinh hóa, nhưng đồng thời cũng thừa nhận một thực thể thứ 3 giữ vai trò phối hợp, khắc chế, điều hoà, bao dung cả 2 phản tố để tồn tại. 
  Với ý thức hệ đó, Việt Võ Ðạo Sinh không có thành kiến qui định vĩnh viễn những gì là hoàn toàn tốt, những gì là hoàn toàn xấu, và luôn luôn đứng trên cương vị bao dung, hoán cải. Một sự việc xét theo khía cạnh này có thể là khiếm khuyết, song luận theo khía cạnh kia lại là ưu điểm. 
  Vì vậy, Việt Võ Ðạo Sinh cần sáng suốt nhận định để phân biệt và giải tỏa được mọi khúc mắc, để biết rõ bề mặt và bề trái của sự việc, ngỏ hầu xử sự cho hợp thời, đúng lúc. Có kẻ bề ngoài coi thật ôn hòa, khả ái nhưng bên trong lại đầy thủ đoạn, biếm nhẽ. Có người bên ngoài thật ngang ngược, thô bạo nhưng bên trong lại vô cùng thuần hậu, hiền lương. 
  Hơn nữa "gần mực thì đen gần đèn thì rạng", Việt Ðạo Sinh phải sáng suốt nhận định để lánh xấu, gần tốt, phân biệt được người thực, kẻ giả, người hiền, kẻ ác. Lầm thù thành bạn đã là một lầm lỗi đáng kể, thiệt hại tới bản thân, nhưng lầm bạn ra thù thật là một lỗi lầm quan trọng, mang hận suốt đời không bao giờ tha thứ được. Vì đời người dễ đâu mỗi lúc đã kiếm được người tri kỷ. 
  2 - Câu chuyện Câu Tiễn nước Việt muốn phục thù Ngô, đã chịu bao thảm nhục chăn ngựa, nếm phân, rồi nằm gai nếm mật, luyện quân, cải cách nội trị trong suốt mấy chục năm đáng để cho chúng ta suy nghĩ. Và Bình Ðịnh Vương Lê Lợi, trong 10 năm kháng Minh, biết bao nhiêu lần Vương gặp thảm cảnh quân sĩ tan nát, phải trốn chạy thảm nhục. Nhưng Vương cũng như vua Việt Câu Tiễn, không một chút nản lòng. Phần nhiều những người có nghiệp lớn, đều có nghị lực, bền vững, sâu xa và chí khí lớn rộng như vậy. Thất bại không hề ngã lòng. Sức mạnh không thể khuất phục. Họ lần lượt giải quyết những khó khăn, bằng cách bền bỉ và dẻo dai đương đầu với những khó khăn. Họ là những người có nghị lực sung mãn.   Chúng ta gọi họ là những người bền gan tranh đấu, cũng như quần chúng thường gọi là những người to gan, lớn mật. 
  Việt Võ Ðạo Sinh chúng ta phải kế tục những ảnh hưởng đó: "bền gan tranh đấu". 
  Có bao nhiêu trường hợp "tranh đấu" đòi hỏi chúng ta phải "bền gan" 
Mạnh tử đưa ra ba trường hợp tranh đấu lớn trong đời sống. Ba trường hợp điển hình cho sự tranh đấu, mà nếu viên mãn được, đó là mẫu người đại trượng phu, lý tưởng. 
  Trường hợp trước uy vũ: Uy quyền và bạo lực, không thể làm khuất phục được (uy vũ bất năng khuất) 
  Trường hợp trước sự nghèo đói: Trước sự nghèo đói của bản thân, chí khí vẫn không bao giờ đổi, không ai có thể mua chuộc được (bần tiện bất năng di). 
 Trường hợp trước sự giàu sang: Giàu sang dễ làm hỏng con người, bị choáng ngợp trong những phương tiện hưởng lạc dồi dào, cũng là một trường hợp thử thách lớn. Khi giầu sang, vẫn không kiêu sa dâm dật, tự chế phục mình mà không dời bỏ chí khí (phú quý bất năng dâm) 
  Ba trường hợp thử thách trên, cũng chính là ba trường hợp mà chúng ta thường gặp, thường nghe, thường thấy. Việt Võ Ðạo Sinh xử sự rất hợp với mẫu người đại trượng phu. 
  Kết hợp với đoạn trên, chúng ta có 2 phần đầu của điều tâm niệm thứ 9: "Sáng suốt nhận định, bền gan tranh đấu". 
  3 - Việt Võ Ðạo Sinh phải thực tế trong hành động. 
  Có 3 loại hành động. 
  Loại hành động "tếu": Phát sinh từ một thái độ lạc quan quá trớn, nhìn đâu cũng chỉ thấy toàn một màu hồng, việc gì cũng dễ dàng, thành công tựa như một đồ vật để trong túi áo, muốn lấy ra lúc nào thì lấy. Người hành động tếu là người không bao giờ giốc hết tâm trí và khả năng vào một việc gì, và cốt làm chiếu lệ với một thái độ tếu. Lúc gặp khó khăn trở ngại lớn, cách giải quyết hay hơn hết là bỏ chạy, rồi đổ vây lỗi cho hoàn cảnh hay người khác, và coi như việc đó đã giải quyết xong. 
  Loại hành động "dựa dẫm": Khác với hành động trên phát sinh từ một thái độ lạc quan quá trớn, những người có thái độ hành động dựa dẫm, nhìn đâu cũng chỉ thấy toàn những khó khăn trở ngại không thể vượt nổi. Quan niệm ấy phát sinh từ thái độ bi quan quá lố mà ra. Do đó, nẩy sinh óc thụ động, làm việc với thái độ ỷ lại, dựa dẫm, máy móc, chiếu lệ. Lúc gặp khó khăn, trở ngại lớn, chưa đối đã nghĩ tới thất bại, có tâm lý chủ bại, thụ động trước hoàn cảnh, rồi đổ vấy cho số mạng, định mạng. Ngược lại, lúc gặp hoàn cảnh thuận tiện, cũng không dám đích thân bắt lấy cơ hội, tự lực giải quyết. Hành động dựa dẫm hoàn toàn có tánh cách cầu an, thụ động. 
  Tất nhiên cả 2 loại hành động này không hợp với tinh thần Việt Võ Ðạo, chúng ta gạt bỏ. 
  Loại hành động tháo vát: Không hành động tếu, không hành động dựa dẫm, tất nhiên chỉ còn một con đường hành động thứ 3 nữa, phù hợp với tinh thần Việt Võ Ðạo Sinh là hành động tháo vát. Hành động tháo vát là loại hành động chủ động, thông minh, nhiều sáng kiến, thích ứng một cách hợp tình, đại lý với mọi hoàn cảnh, mọi trường hợp. Người có hành động tháo vát luôn luôn yêu người, kết hợp với người nhưng không dựa dẫm vaò người. Là người luôn luôn ứng phó mau lẹ với mọi hoàn cảnh, nghịch cảnh, nhưng không vướng phải những lầm lỗi quan trọng như hãnh tiến, bừa bãi, kiêu binh, khinh địch. 
  Tóm lại 3 mục tiêu trên được đúc kết thành điều tâm niệm thứ 9 : 
  Việt Võ Ðạo Sinh Sáng Suốt Nhận Ðịnh, Bền Gan Tranh Ðấu, Tháo Vát Hành Ðộng. 

  Điều 10. Ðức Sống Và Tinh Thần Cầu Tiến Của Việt Võ Ðạo Sinh. 

  Sau những giải đáp về nếp suy cảm, nghị lực và hành động,Việt Võ Ðạo Sinh phải tự kiện toàn bằng 4 đức tính: Tự tin, tự thắng, khiêm cung, độ lượng. 
  1. Tự tin: Tin ở mình. Tuy nhiên, khi nói tin ở mình, cũng không có nghĩa là tin ở những"tin xấu" của mình, vì những tính xấu không có gì đáng đặt vấn đề tự tin hay không tự tin. 
  Phải tin ở mình, tức phải tin những gì tốt đẹp nhất mà mình có, như ý chí, đạo đức, danh dự, niềm tin, khả năng võ thuật. 
  Vào thực tế, tại sao đức tính đầu tiên của Việt Võ Ðạo Sinh phải là đức tính tự tin? Chính vì phân biệt giữa người trưởng thành và người chưa trưởng thành, phân biệt giữa người có tư cách, có khả năng thực sự với kẻ thô lậu, huyênh hoang là đức tính tự tin. 
  Mình có tin ở mình thì người mới tin được mình. Không có đức tính tự tin không thể thành công. 
  Tự tin theo nghĩ rộng, còn có một ý nghĩa tích cực nữa, là phát huy phần tốt đẹp trong con người của mình, để mỗi lúc một thăng hoa hơn, làm việt có hiệu quả hơn. 
  2. Tự thắng: Thắng mình. Tất nhiên, không phải là thắng những gì tốt đẹp của mình: mà là thắng những thói hư tật xấu, những vị kỷ yếu đuối trong con người của mình. 
  Thói hư, tật xấu trong con người chúng ta có rất nhiều, tùy thuộc ở tham vọng, dục vọng của mọi người. Những thói hư tật xấu ấy nhiều đến nỗi tiền nhân chúng ta phải lập luận "sống mỗi người một nết, chết một người một tật". Tuy nhiên, về mặt tích cực, không ai trong chúng ta không ao ước: mỗi ngày tự chế ngự được nhiều tính xấu hơn, tự tăng tiến được nhiều tính tốt hơn. Chính cố gắng để ngày một tốt hơn là cách tự thắng tích cực hơn cả, vì nó làm mới, làm đẹp, làm tiến bộ con người. 
  Tự thắng những gì là hư, xấu trong con người của mình nhất định sự nghiệp của mỗi chúng ta sẽ bớt đi một số trở ngại, khó khăn do chính chúng ta tạo ra. 
  3. Khiêm cung: Tức khiêm nhường, cung kính với người trên, hay người trong độ tuổi hơn mình. Ðức tính khiêm cung sẽ làm chúng ta mỗi ngày được nhiều người cảm mến hơn. 
4. Ðộ lượng: Tức đức độ, rộng lượng với người dưới, hay người nhỏ tuổi hơn mình. Ðức tính độ lượng sẽ làm cho chúng ta mỗi ngày thêm gần thân với lớp người trẻ hơn. Chúng ta sẽ dễ dàng thông cảm hơn với người dưới và nhỏ tuổi hơn ta, khi ta thành thật chia xẻ tình cảm và những thắc mắc của họ trong đời sống, bằng lòng độ lượng. Ðó cũng là một trong những bí quyết thành công. 
  Tóm lại, khi đối xử với mình và với người, Việt Võ Ðạo Sinh phải luôn luôn nhớ tới 4 đức tính đã được đúc kết thành đoạn đầu của điều tâm niệm thứ 10: "Tự tin, tự thắng, khiêm cung, độ lượng". 
  Tu dưỡng được 4 đức tính tự tin, tự thắng, khiêm cung, độ lượng rồi, Việt Võ Ðạo Sinh khả dĩ mang được "đạo" vào "đời", hay nói khác đi, đã có thể hành xử được sứ vụ Việt Võ Ðạo trong sinh hoạt thường nhật qua những cách xử lý tiếp nhận. 
  Tuy nhiên đường đi còn dài, trong công cuộc tu dưỡng 10 điều tâm niệm trên, sẽ có lúc cá tính chúng ta như một con ngựa bất kham, không chịu đi đúng đường, chúng ta gặp sai lầm. Rồi sau đó, chúng ta mang mặc cảm tội lỗi, thiếu tin tưởng ngay chính với bản thân. Cũng như một người đi đôi giầy mới trên con đường bùn lầy, mới đầu còn gượng nhẹ, sau giẫm cả đôi giầy xuống bùn vì nghĩ rằng: "đằng nào cũng đã bẩn rồi". 
  Tinh thần ấy, chẳng những không phù hợp, mà còn phản bội cả tinh thần Việt Võ Ðạo, phá tan tất cả nhũng gì tốt đẹp nhất mà mỗi chúng ta đã dày công tu dưỡng và xây dựng nên. Chúng ta phải còn can đảm nhìn lại bước đường đã qua để tự tu tỉnh. Lỗi lầm nào trong quá khứ cũng có thể tha thứ được, nếu hiện tại của chúng ta trong sạch và cao thượng. Chúng ta, cũng không nhìn lại bước đường đã qua bằng cặp mắt kiêu ngạo, tự đắc, tự mãn, hoặc than van, thương tiếc, mà nhìn lại với mục đích: "luôn luôn kiểm điểm để tiến bộ". 
  Ðó chính là điều kiện căn bản để thực hiện cuộc cách mạng tâm thân, được coi như một công trình tư dưỡng không ngừng của mỗi Việt Võ Ðạo Sinh để diệt trừ những cái xấu, tệ, dơ hầu phát huy không ngừng những cái tốt, hay, đẹp về cả 2 phương diện tinh thần và vật chất. 
  Vì vậy, khuyên điều chót của Việt Võ Ðạo Sinh chính là phần cuối điều tâm niệm thứ mười: "luôn luôn kiểm điểm để tiến bộ". 
  Tựu trung, đường hướng xử kỷ, đối nhân và phản tỉnh của Việt Võ Ðạo Sinh đúc kết trong điều tâm niệm thứ 10: 
  Việt Võ Ðạo Sinh Phải Tự Tin, Tự Thắng, Khiêm Cung, Ðộ Lượng, Luôn Luôn Kiểm Ðiểm Ðể Tiến Bộ. 

PHƯƠNG PHÁP HUẤN LUYỆN ÐÒN CHIẾN LƯỢC



Ðể huấn luyện một đòn chiến lược, mỗi võ sư, mỗi huấn luyện viên đều có thể có mỗi phương pháp giảng dạy riêng, miễn sao đạt được mục đích huấn luyện. Nghĩa là phải truyền đạt như thế nào để cho võ sinh hiểu nhanh, nắm đúng, có sự hăng say trong tập luyện và áp dụng được trong đời sống một cách như mong muốn.
Với muôn vàn phương pháp huấn luyện khác nhau, sau đây tôi chỉ xin nêu ra một phương pháp huấn luyện đòn thế chiến lược để các đồng môn tham khảo.
Và với bài viết này, tôi xin kính tặng võ sư Lư Quang Ðức, Hồng Ðai đệ I cấp chủ tịch hội Vovinam Việt Võ Ðạo Khánh Hòa. Người đã giúp đỡ cho tôi rất nhiều trong việc hoàn thiện kỹ thuật của môn phái.

I. GIỚI THIỆU HỆ THỐNG ÐÒN THẾ CHIẾN LƯỢC:

1. Giới thiệu hệ thống đòn chiến lược môn phái.

Bất cứ một môn phái võ thuật nào cũng đều có những hệ thống võ thuật riêng và cũng được giảng dạy theo bản sắc riêng của môn phái mình.
Trong hệ thống kỹ thuật của môn phái Vovinam Việt Võ đạo cũng có những bài bản riêng và hướng dẫn cho võ sinh tập luyện từ dễ đến khó, từ thấp lên cao, từ những đòn thế căn bản có các thế đánh từng động tác một và được ghép lại thành một chuổi động tác liên hoàn, như các lốâi đấm, các lối đá, các lối chém... được ghép lại thành các bài quyền, các bài song luyện .. và cũng chính từ những đòn căn bản đó các đòn chiến lược được ra đời và được biên tập thành một hệ thống đòn thế chiến lược, một trong những hệ thống kỹ thuật quan trọng của môn phái.
Trong hệ thống kỹ thuật của môn phái bao gồm có 30 đòn chiến lược được gọi từ đòn chiến lược số 1 đến đòn chiến lược số 30. Ðược chia ra theo chương trình huấn luyện của từng cấp đai, được sắp xếp từ dễ tới khó, từ đơn giản tới phức tạp, từ 2 - 3 động tác trongmột đòn thế chiến lược lên đến 8 động tác trongmột đòn thế chiến lược, về kỹ thuật được cấu tạo rất đa dạng, có động tác hư, có động tác thực (hư chiêu, hữu chiêu), tấn pháp được sử dụng linh hoạt để có thể di chuyển, phối hợp các thế đánh trong đòn chiến lược được linh hoạt. Và để bắt đầu làm quen với các đòn thế chiến lược trong hệ thống đòn chiến lược của môn phái. Trước hết chúng ta tìm hiểu nghĩa chiến lược là gì ? Mục đích, ý nghĩa khi tập luyện một đòn thế chiến lược ?

2. Ðịnh nghĩa chiến lược: 

Chiến lược ở đây có thể được hiểu như sau:
- Chiến: Chiến đấu, tranh nhau, đánh nhau. 
- Lược: Chọn lọc, tinh loc, tinh giản. 
Như vậy chiến lược có thể định nghĩa: Là sách lược, là những đòn thế đã được chọn lọc, ghép lại thành một chuỗi động tác liên hoàn dùng để chiến đấu.

3. Mục đích - yêu cầu:

a) Mục đích: Mục đích tập luyện của một đòn chiến lược là: 

- Làm cho võ sinh có được một thể lực sung mãn, một thân thể khỏe mạnh (rèn luyện thể chất). 
- Tạo cho võ sinh có chịu đựng dẻo dai, ứng biến linh hoạt. 
- Tạo cho võ sinh có được một khả năng tự tin trong chiến đấu và tự vệ hữu hiệu. 

b) Yêu cầu: (đối với võ sinh). 

- Phải tập trung tư tưởng, lắng nghe lới giảng dạy. 
- Nắm nhanh, nằm vững phương pháp tập luyện và kỹ thuật đòn thế chiến lược. 
Ra sức luyện tập: Nhanh mạnh, chính xác và đúng kỹ thuật. 

II. PHƯƠNG PHÁP HUẤN LUYỆN ÐÒN CHIẾN LƯỢC:

1. Bước chuẩn bị:

Trước khi giảng dạy một đòn thế chiến lược, huấn luyện viên nên có sự chuẩn bị trước, chọn những động tác khá cho võ sinh tập trước để khi bước vào tập luyện đòn thế chiến lược sẽ được dễ dàng tạo sự hưng phấn cho võ sinh hăng say tập luyện hơn, chẳng hạn trong đòn chiến lược số 2, số 3, cho tập trước động tác đá quét - chém; trong đòn chiến lược số 4 cho tập trước bước đạp...

2. Phân tích - giảng dạy đòn thế chiến lược:

Nêu rõ đòn chiến lược có bao nhiêu động tác cả thảy, trong đó có bao nhiêu động tác tay, động tác chân. Tấn pháp, nhãn pháp... được sử dụng trong đòn chiến lược đó...

a. Giai đoạn 1: (huấn luyện viên đánh mẫu)

Ðánh mẫu có mục tiêu không chống đỡ (mời phụ tá hay 1 võ sinh của lớp)
Huấn luyện viên trình bày hết đòn chiến lược bằng từng động tác một, được đánh chậm vào mục tiêu trên cơ thể người đứng mẫu. 
Người đứng mẫu đứng yên trong tư thế thủ, không chống đỡ.
Huấn luyện viên trình bày đòn chiến lược không có người đứng mẫu 
Huấn luyện viên đánh chậm từng động tác, sau đó đánh nhanh một lần liên tục hết đòn chiến lược (có thể trình bày từ 2, 3 lần trở lên để cho võ sinh nằm vững). 
Bước 1: Cho võ sinh tập 
Cho võ sinh tập rời, tức không có đối thủ. 
Tập chậm từng động tác một theo lời hô cho đến khi thuần thục. 
Tập ghép từ 2 đến 3 động tác trở lên cho một lần hô.
Ví dụ: đòn chiến lược số 1: Hô một: Võ sinh đánh 2 động tác liền: chém, đấm; hô 2,: Võ sinh đánh chỏ. Hay đòn chiến lược số 21: Hô một - võ sinh đánh 4 động tác liền: Ðấm trái, đấm phải, đấm móc, phạt ngang; Hô 2: Ðá, đấm, quạt ngược, chỏ. 
Khi võ sinh đã thuần thục cho đánh nhanh hết đòn chiến lược trong một lần hô. 
Cho võ sinh xoay cặp vào nhau, tập đánh có mục tiêu cố định, không chống đỡ bằng cách:  
Ðánh chậm có vận lực vào mục tiêu trên cơ thể, từ từ chạm mục tiêu và dừng lại. 
Ðánh nhanh, có độ dừng an toàn khi gần mục tiêu. 

b. Giai đoạn 2: (HLV đánh mẫu)

Ðánh mẫu có mục tiêu di động, chống đỡ (đánh đuỗi chiến lược) 
HLV trình bày từng động tác một (với người mẫu)  
Có đỡ, gạt, né tránh theo quy ước. 
HLV trình bày nhanh hết một đòn chiến lược có đỡ, gạt, né tránh và có kết thúc hiệu quả (té, ngã) 
Bước 2 (Cho võ sinh tập) 
Cho võ sinh xoay cặp vào nhau, tập đánh đuỗi với nhau. 
Theo lời hô từng động tác một. 
Tập đánh ghép từ 2, 3 động tác trở lên torng một lần hô. 

III. ÁP DỤNG ÐÒN THẾ CHIẾN LƯỢC TRONG GIAO ÐẤU:

Mục tiêu quan trọng nhất của tập luyện một đòn thế chiến lược là phải áp dụng được trong giao đấu và phải có hiiệu quả, vì vậy HLV phải phân tích, hướng dẫn từng kỹ thuật đễ võ sinh hiểu rõ, từ đó mỗi lần tập luyện có chủ đích, có sự hăng say sáng tạo và đưa đến sử dụng một cách có hiệu quả nhất.
Ví dụ: Phân tích đòn chiến lược số 1.
- Chém trái vào vùng mặt đối thủ (mũi, trán, thái dương) 
- Nếu đối thủ đưa tay lên đỡ, gạt thì vùng thân trước đối thủ bị bỏ trống, một khoảng trống từ ngực trở xuống. Vì thế ta lập tức đấm thấp vào vùng bụng... 
- Và lập tức kết thúc bằng đánh cho triệt. 
Có thể huấn luyện cho võ sinh tập luyện áp dụng một đòn thế chiến lược theo các bước tuần tự như sau.
- Cho võ sinh tập đánh nhanh đòn thế chiến lược trong tư thế thủ di động tại chổ, theo hiệu lệnh hô. 
-Cho võ sinh tập đánh gió đòn chiến lược theo tự luyện, di chuyển rộng: Tới, lui, qua trái, qua phải. 
- Xoay cặp vào nhau: Một người cầm tấm chắn một người tấn công đòn chiến lược vào tấm chắn: Di động và không di động (không trúng người). 
- Xoay cặp vào nhau, đánh tự do với một đòn chiến lược theo quy ước. 
- Cho tập giao đấu với một đòn chiến lược theo quy ước trongmột diện tích giới hạn. 

IV. KÊT LUẬN: 

Lúc ban đầu, mọi người học võ đều có mục đích riêng, có người nói học võ để khỏe mạnh, kảo dài tuổi thọ, sống lâu, học võ để tự vệ để có đủ lòng tự tin, bản lãnh khi cần dùng đến...Nhưng có lẽ chung quy vẫn là phải sử dụng được hiệu quả trong giao đấu thì mới có sức thuyết phục. Nhất là trong giai đoạn hiện nay, võ thuật là một môn TDTT đươc dùng để thi đấu trong giao hữu quốc tế.
Với phong trào phát triển ngày một vững mạnh, môn phái Vovnam Việt Võ Ðạo cũng đã ra đời luật thi đấu đối kháng và cũng là một trong những hệ thống thi đấu tranh giải hằng năm của môn phái. Vì vậy vai trò người HLV rất quan trọng, người HLV phải có kiến thức võ học, phải biết truyền đạt và hướng dẫn cho võ sinh tập luyện sao cho có hiệu quả và nhất là phải tập cho võ sinh có sự tư duy trong chiến thuậït, ra sức tập luyện nhuần nhuyễn mới có thể hoàn thiện được cho chính bản thân mình, từ đó mới có thể sử dụng hữu hiệu, mới có thể đóng góp cho công cuộc phát triển môn phái trong tương lai.
Võ Sư Nguyễn Quý


PHƯƠNG PHÁP HUẤN LUYỆN MỘT THẾ VÕ

Võ sư Nguyễn Văn Chiếu

Trước tiên phải nói tên thế võ hoặc giới thiệu, định nghĩa, lọai đòn thế sẽ học như: Khóa gỡ là gì. Chiến lược là gì. Các thế phản đòn tay, đòn chân, học để làm gì…. Biểu diễn cho võ sinh xem 1 thế võ để có khái niệm bao quát về thế võ đó. 

1. Giới thiệu, nói tên thế võ, đòn mới. 

Trước tiên phải nói tên thế võ hoặc giới thiệu, định nghĩa, lọai đòn thế sẽ học như: Khóa gỡ là gì. Chiến lược là gì, các thế phản đòn tay, đòn chân, học để làm gì….
Biểu diễn cho võ sinh xem 1 thế võ để có khái niệm bao quát về thế võ đó. 

2. Giải thích thế võ gồm có mấy động tác.

Việc này tiến hành từng bước :
- Giới thiệu toàn bộ động tác.
- Yêu cầu làm động tác.
- Cách thức làm động tác.
Sau đó nhấn mạnh phần cơ bản, chủ yếu quyết định đến kết quả động tác. Khi giảng dạy cần chú trọng đến: 
- Vị trí của chân đứng, thế đứng 
- Sự vận động của cánh tay chân 
- Sự chuyển động của cổ tay, bàn tay, chân trụ 
- Hướng dẫn cách té ngã, chống đỡ an toàn đối với người chịu đòn
- Chú ý, khi giải thích phải rõ ràng, chính xác, ngắn gọn,nổi bật được những điểm cần chú ý. Tránh giải thích dài dòng làm cho võ sinh ngồi lâu để nghe. Để cho võ sinh ở trạng thái tĩnh trong giờ tập võ, là điểm tối kỵ cần phải tránh. Dùng lời nói dễ hiểu, gần gủi trình độ người tập, nhất là khi dùng lời chuyên môn.

3. Làm mẫu động tác.

Huấn luyện viên làm mẩu động tác phải chính xác, rõ ràng, đẹp mắt, đúng yếu lĩnh và kỹ thuật nhằm gây cho võ sinh hứng thú luyện tập, ấn tượng sâu sắt vào ký ức để võ sinh dễ tiếp thu vào làm theo.
Có 2 cách làm mẫu: 
- Làm mẫu toàn bộ động tác 
- Làm mẫu từng phần, từng cử động, sau đó kết hợp lại, làm toàn bộ 1 lần rồi giải thích. 
- Vừa làm mẫu, vừa dẫn giải, là một biện pháp có hiệu quả cao trong giảng dạy động tác. Người làm mẫu có 2 vị trí để thị phạm : 
+ Đối diện 
+ Cùng chiều 
Đối diện tức là huấn luyện viên quay mặt về hướng người tập, để hướng dẫn cách này thuận tiện cho huấn luyện viên dễ quan sát và điều khiển võ sinh. Với những động tác phức tạp thì nên hướng dẫn cùng chiều, có nghĩa là quay lưng về võ sinh. Tập đến đâu, ôn đến đó, cứ như thế mà hướng dẫn cả bài. 

4. Điều khiển võ sinh tập theo khẩu lệnh.

Sau khi huấn luyện viên làm mẫu động tác và giải thích xong, cho võ sinh tập theo nguyên tắc từ nhẹ đến nặng, từ chậm đến nhanh, vào đòn chính xác. Sau đó mới té ngã, đội với những động tác khó, phức tạp thì nên cho tập đi tập lại nhiều lần. Hô khẩu lệnh phải mạnh, dứt khoát. Động tác nào còn yếu, HLV làm mẫu lại để người tập quan sát và hướng dẫn cách khắc phục những cử động còn sai. 

5. Kiểm tra và sửa chữa động tác sai.

Trong quá trình giảng dạy và luyện tập thường xảy ra những thiếu sót, làm động tác sai. Việc sửa chữa phải tiến hành từng bước, có trọng điểm, điều trước tiên phải nguyên nhân thiếu sót đó, do phương pháp huấn luyện, do trình độ người tập, hay do động tác phức tạp. Sau khi tìm được nguyên nhân HLV phải sửa chửa ngay. Muốn tránh thiếu sót sai lầm thì phải đảm bảo dạy đúng như chỉ dẫn, đúng chương trình : 
- Tiến hành từng bước 
- Từng bộ phận bài tập 
- Ôn tập và củng cố dần dần

6. Biện pháp sửa chữa thiếu sót.

HLV phải đi lần lượt từng nhóm, từng người để uốn nắn động tác làm sai. Có thể sửa chữa bằng lời, nói rõ những chỗ tập sai, có thể trực tiếp uốn nắn từng võ sinh. Khi nào nhận thấy có một sai lầm chung HLV chọn 1 em nào sai nhiều nhất, vừa sửa chữa vừa giải thích cho toàn thểlớp: 
Giải thích, chỉ dẫn lại yêu cầu và cách làm động tác 
Làm mẫu lại động tác 
Yêu cầu làm lại động tác chính xác. Làm từ từ, từng bộ phận rồi đến toàn bộ.
Ôn tập nhiều lần

7. Kiểm tra.

Tùy theo mức độ tiếp thu của võ sinh, HLV có thể áp dụng phương pháp kiểm tra chất lượng động tác bằng cách gọi một số người ra, lần lượt biểu diễn 1 số động tác. Sau đó, phân tích chổ đúng, sai để đánh giá việc thực hiện động tác. 
  Võ sư Nguyễn Văn Chiếu

GIẢI VOVINAM (NỘI DUNG THI ĐẤU ĐẠI HỘI TDTT TỈNH HÀ NAM LÀN THỨ IV NĂM 2013)

Tham gia Giải có gần 70 vận động viên (VĐV) của các đoàn đến từ các huyện thành phố trong tỉnh. Các VĐV sẽ tranh tài 10 bộ huy chương với 4 nội dung quyền biểu diễn và 6 hạng cân đối kháng (trong đó, 2 hạng cân nữ và 4 hạng cân nam).
  Đây là một nội dung thi đấu của Đại hội thể dục thể thao tỉnh Hà Nam lần thứ IV năm 2014 nên số huy chương giành được của các đoàn sẽ tính vào bảng tổng sắp huy chương của Đại hội. Tuy là nội dung lần đầu tiên được đưa vào thi đấu trong chương trình Đại hội Thể dục thể thao của tỉnh, nhưng chất lượng thi đấu của các VĐV được Ban tổ chức và Liên đoàn Vovinam Việt Nam đánh giá cao. Các vận động viên đến từ các huyện thành phố trong tỉnh đã cống hiến cho khán giả những trận đấu căng thẳng, kịch tính và những màn biểu diễn võ thuật hết sức hấp dẫn. Kết quả chung cuộc, ở nội dung quyền giải nhất đồng đội  thuộc về huyện Lý Nhân, giải nhì thuộc về đội Phủ Lý, đồng giải 3 là huyện Duy Tiên, Kim Bảng; Ở nội dung đối kháng, Ban tổ chức đã trao huy chương cho các cá nhân có thành tích thi đấu xuất sắc. Đây là dịp để các đơn vị tham gia giải Vovinam có cơ hội giao lưu, học hỏi và tiếp tục có sự đầu tư, bồi dưỡng nâng cao hơn trình độ chuyên môn của các VĐV, qua đó nâng cao thành tích thi đấu trong các năm tiếp theo.






Thứ Bảy, 1 tháng 11, 2014

MỤC ĐÍCH HỌC VÕ - THƯ CHƯỞNG MÔN


Các môn đệ thân mến,
Làm việc gì cũng cần có mục đích. Mục đích phải mang lại lợi ích cho con người thì việc làm mới có ý nghĩa, mới được mọi người công nhận, và người thực hiện sẽ cảm thấy hứng khởi mà đặt hết tâm hồn vào công việc.
Học võ cũng vậy, nếu không có mục đích, chẳng khác gì người đi đường không biết mình đi đâu, người lính ra trận mà không biết mình ra trận để làm gì ? tuy vậy, có những mục đích cao xa đáng nâng lên thành lý tưởng, và có những mục đích tầm thường thiển cận, chỉ có giá trị và được đặt ra trong một giai đoạn nào đó mà thôi.
Người bắn cung, dù có lắp tên căng dây, nhưng nhắm mắt buông dây bừa đi thì đó là không có mục đích, sự bắn cung chẳng có ý nghĩa gì. Nếu chỉ nhằm những đích gần và thấp, rồi dí sát vào tận nơi mà bắn, hẳn dễ trúng lắm. Song sự bắn trúng đó chẳng mang lại cảm giác thích thú gì, vì đích đó tầm thường, thấp kém quá, có gì đáng hãnh diện? 
Cho nên khi mới học bắn có thể nhắm những đích gần và thấp, sau đó phải đặt lên một tầm mức cao xa hơn, việc bắn mới có ý nghĩa. Nhưng điểm quan trọng là ở chổ suy nghĩ để tìm phương cách làm thế nào đạt tới, làm sao cho trúng đích? Chính những tính toán và sự sửa soạn để vương tới thành quả đó là một cơ hội cho ta tự kiện toàn chính mình, gặt hái được nhiều kinh nghiệm để trở nên trưởng thành hơn.
Học võ cũng vậy, có mục đích mới có hứng thú để tạo đà tiến bộ. Cũng như học bắn cung, lúc đầu có thể nhắm những đích gần và thấp, như học võ để tự vệ, học võ vì ham thích võ thuật, muốn trở thành nhân vật giỏi võ. Ðó chỉ là ý nghĩ đầu tiên của những người mới bước chân vào ngưỡng cửa VOVINAM VIỆT VÕ ÐẠO. Sau đó, người võ sinh sẽ thấy rằng: võ thuật và võ đạo là những chất liệu vô cùng quan thiết để xây dựng con người có ý chí, nghị lực, khoan hoà, đức độ, biết sống vì mọi người thì sẽ được mọi người yêu thương, tin tưởng. Ðược vậy, chắc chắn sẽ dễ dàng thành công trong đời sống. Ðó là học võ với tinh thần võ đạo, cao xa mà thiết thực, mọi môn sinh nếu cố gắng, kiên nhẫn theo đuổi, rèn luyện và tu dưỡng, đều đạt tới đích cả.
Với nhận thức trên, môn sinh VOVINAM VIỆT VÕ ÐẠO học võ để thân thể khoẻ mạnh, trí tuệ minh mẫn, tâm hồn cao thượng, để có ý chí hơn, có nghị lực hơn, để tin tưởng cái giá trị thực sự nơi con người của mình, tin tưởng khả năng đóng góp của mình sẽ đắc lực hơn vào việc mưu cầu hạnh phúc chung cho gia đình, cho xã hội.


LIÊN HỆ



MỌI THÔNG TIN XIN LIÊN HỆ
BỘ MÔN VOVINAM - VIỆT VÕ ĐẠO TỈNH HÀ NAM 
Trụ sở: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Hà Nam
(đường Lý Thái Tổ , phường Lê Hồng Phong, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam)
Hotline: 0976 700 668 - 0947 983 168 - Email: vovinamhanam@gmail.com
Website: www.vovinamhanam.com


 

BẢN ĐỒ



GỬI THÔNG TIN GÓP Ý VÀ LIÊN HỆ